Bãi mả hủi

(Xây dựng) – Giữa những ngày tháng giãn cách xã hội vì dịch  bệnh, người lớn lo nghĩ mất ngủ, khao khát bầu trời tự do, trẻ em mong mỏi được đến trường, được vui sống giữa thiên nhiên tươi sáng này, tôi lại nhớ đến kỉ niệm một thời thơ dại xa xôi, một mùa hè gian khổ mà đẹp đẽ…

bai ma hui
Ảnh minh họa.

 

Bãi mả hủ. Nghe tên đã thấy sợ rồi phải không các bạn? Vậy mà ngày đó tôi chẳng biết sợ là gì. Nói của đáng tội, lúc đầu sơ tán về miền quê ấy, tôi cũng chưa biết tên bãi đất hoang mênh mông đầy cỏ cây hấp dẫn này.

Bãi đất nằm ở bìa làng, tiếp giáp với một khoảng rừng thưa bé xíu còn sót lại và một nghĩa địa công giáo. Chênh chếch khoảng nửa cây số, nhìn về phía đường tỉnh lộ vào làng là dấu tích một nhà thờ nhỏ từ thời thuộc Pháp.

Ngay từ hôm đầu về sơ tán, ở nhờ nhà bá Sự gần đó, tôi đã bị nơi hoang vu này hấp dẫn. Lang thang đi kiếm củi, tôi luồn vào những bụi cây, ngắm những tổ chích bông xinh đẹp đung đưa gắn vào đôi chiếc lá to. Chiếc mũi xinh hít lấy hít để hương thơm của bụi hoa kim ngân trắng hay chùm dẻ vàng náu nơi xa nào đó…

Tôi đặc biệt thích những dây leo và những cây có quả. Quả dung dúc, canh châu, phèn đen bé xíu chín đen, trái duối vàng, quả mây nhỏ ráp ráp, chua chua, quả vú bò, quả sung chát chát… Có hôm kiếm được chùm bưởi bong chín hồng hồng, trong trong như những viên bi nhỏ, bé xíu mà ngọt hắc. Hôm thì nếm những trái mẫu đơn chín đen ngọt bùi…

Nhưng thú thật, thứ quả dại tôi thích nhất ở đây là lạc tiên. Tôi đã chờ đợi và ngắm nghía từ khi cây đơm hoa. Tôi yêu những đóa hoa trắng có nhụy phớt tím hình cô tiên đang múa ấy. Cây ra hoa nhiều đợt, có dây vừa có hoa, vừa có quả xanh, quả chín. Đôi khi tôi nằm bò lên cỏ, chăm chú ngắm hoa lạc tiên nở mà tưởng tượng cả thế giới thần tiên như truyện cổ tích mình đọc, rồi chờ đợi ngày trái chín rộ. Và ngày ấy cũng đến. Thường đầu tháng Năm Âm lịch, dịp tết Diệt sâu bọ, quả chín nhiều nhất.Thoảng trong gió có mùi hương ngọt ngào quyển rũ, tôi cứ nương theo hương thơm mà tìm. Không thể quên cảm giác sung sướng khi tìm thấy trái nhỏ vàng ươm như bọc trong tơ nhện, ẩn trong đám lá xanh. Tôi vội vàng hái và bóc đưa lên miệng, vị ngọt thơm làm tan cái nóng khô khát và quên cơn đói thường trực lúc bấy giờ.

Cứ thế, tôi len lách hết gò đất này đến gò đất khác quấn quýt đầy những dây lạc tiên bò hoang cùng nhưng  cây bụi lúp xúp, chẳng để ý tại sao ít người đến đấy, trẻ con cũng vội đánh trâu qua…

Rồi một hôm, có mấy đứa trẻ cưỡi trên lưng trâu thấy tôi đi vào bãi đất hoang, chúng buông một câu: ” Đúng là dân sơ tán! Bãi mả hủi mà cũng vào! Còn đầy ma nữa chứ!”.

À ra vậy! Chuyện từ xa xưa rồi, dù những vết vôi trắng vẫn loang đâu đó trong bãi đất hoang này. Cũng có khi, đây còn là nơi chôn cất những người chết đói năm 45 cũng nên. Tôi từng nghe loáng thoáng các cụ trong làng nói, ngày xưa nơi đây rừng núi heo hút lắm, người đói từ đồng bằng cố lê lết tìm lên miền rừng kiếm sống rồi chết đầy đường. Nhà thờ hay làm phúc, rất có thể người ta đã chôn cất và rắc bao vôi bột nơi này…

Từ đó, tuy tôi không sợ lắm nhưng ít vào một mình . Đến khi kết thân với một cô bạn táo bạo, hồn nhiên xinh xắn, má lúm đồng tiền, hai đứa chúng tôi lại cầm dao rựa, lũn cũn len lách khắp nơi, đi xa hơn, vừa chặt củi nhỏ vừa tìm quả dại. Đôi môi lúc tím lúc xanh đen, với bó củi bó bằng dây leo to hơn người đội trên đầu, cùng những tiếng cười giòn tan, chúng tôi vẫn ríu rít đi về len lách qua bãi mả hủi.

Vào năm ấy, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc, bãi mả hủi sáng lên trong những đêm bom đạn. Những sợi nhiễu bạc máy bay thả bay phơ phất khắp gò đống. Chúng tôi có thêm thú vui nhặt nhiễu bạc kết vòng hoa lấp lánh, tìm lá méo chua ven rừng gói muối nhai đỡ khát nước khi xuống hầm và vẫn kiếm tìm những trái lạc tiên thơm nức, ru mình vào giấc ngủ say sưa.

Lớn thêm chút nữa, tôi mới biết những cỏ cây quanh mình đều là thuốc quý. Từ dây lạc tiên cho trái chín thơm vàng, cây bưởi bong, lá méo, phèn đen, dung dúc, canh trâu…nhỏ bé, đến khóm kim ngân hoa trắng ngát hương nép trong bụi tre, cây tầm bóp, cây tiết dê leo, cây thạch găng gai góc và mọi rau quả, cây lá quanh ta đều là thuốc nam cả.

Tiết Hạ chí, Tết mùng 5 tháng Năm năm đó, sau khi ăn các thức quả, bánh, rượu nếp diệt sâu bọ quen thuộc, chúng tôi đi cắt dây lạc tiên, nhổ bông mã đề, ngải cứu, kiếm ít râu ngô, lá vối, lá vông, dâu tằm, búp ổi… để bà nấu nước uống dần cho mát và dễ ngủ. Nhưng tôi đã không nỡ hái những bông kim ngân trắng thơm, thanh tao nép trong bờ tre mà tôi hay ngẩn ngơ ngắm gần bãi mả hủi.

Tôi và cô bạn còn bắt chước người lớn, vào vườn nhà bạn, thay nhau trèo lên cây ổi, cây mít ít quả, khảo cây rồi cười khanh khách với số quả khổng lồ mà mình nghĩ ra. Cô bạn tôi cầm con dao rựa thật to lăm lăm trên tay, gõ vào gốc quát hỏi, còn tôi vắt vẻo ngồi trên chạc cây:

– Mít kia! Năm nay mày có chịu ra quả không?

– Dạ, dạ có ạ!

– Mày định ra bao nhiêu quả?

– Dạ trăm quả ạ!

– Sao ít thế! Tao cho một nhát bây giờ!

– Dạ! Xin tha cho con! Ngàn quả ạ!

– Được! Nhớ nhé! Ngàn quả đấy! Tha!

Chúng tôi cười phá lên với nhau rồi tìm sang cây khác ít quả, lần này lại đến lượt tôi cầm dao… Cây lá trong khu vườn xanh mát cứ lao xao như cười theo hai đứa…

Chơi chán trong vườn, ăn no một bụng mít, đào, mận, tu hú, hai đứa lại lang thang ra bãi hoang hái hoa, hái lá mình thích. Tôi không bao giờ quên gương mặt bạn tôi đỏ hồng dưới nắng, mồ hôi bò cả vào núm đồng tiền, cái mũi xinh xinh chun chun hít hà một chùm quả lạc tiên chín vàng giữa cánh bãi hoang lộng gió.

Tất cả những loài hoa, loài cây mọc tự nhiên ấy, giờ chỉ còn trong ký ức và xa lắc trên núi rừng hay trong những khu vườn trồng dược liệu.Tôi lại ước có thật nhiều bãi đất liêu trai, nhiều khu rừng, trái núi linh thiêng con người không dám bén mảng, để những tài nguyên thiên nhiên giản dị mà quý giá không bị mất đi theo cơn lốc tàn phá kim tiền dữ dội hôm nay…

 

 

 

Nguồn: Báo xây dựng

Bạn cũng có thể thích